Tôi từng có may mắn book được vé tham dự một chương trình múa rối kịch Bunraku truyền thống của Nhật Bản tại Hà Nội. Một chương trình kéo dài ngót nghét hai tiếng đồng hồ, nhưng kỳ lạ thay, các nghệ nhân dành tới hai phần ba thời lượng ban đầu không phải để biểu diễn, mà chỉ để kiên nhẫn giảng giải cho khán giả: Bunraku thực chất là gì, cấu trúc cơ học tinh xảo của từng khớp gỗ ra sao, sự phối hợp đồng điệu giữa ba nghệ sĩ để điều khiển một hình nhân duy nhất cần bao nhiêu năm trui rèn, và một nghệ nhân mất cả đời người để thực sự làm chủ được linh hồn của con rối đó như thế nào.
Để rồi khi tấm màn nhung mở ra cho trích đoạn ngắn trong vở Yoshitsune và Ngàn cây anh đào, toàn bộ khán phòng như nín lặng. Phần biểu diễn tuy ngắn, nhưng nhờ chiếc cầu nối tri thức đã được bắc qua ở phần đầu—thứ nâng đỡ năng lực cảm thụ của người xem—mà từng cử chỉ khẽ rung của con rối bỗng chốc găm lại trong tâm trí tôi những rung động sâu sắc và xác đáng khôn cùng.
Khoảnh khắc ấy nhấn mạnh một điều: trong bối cảnh hôm nay, khi chúng ta bắt đầu nói nhiều hơn về thực hành sáng tạo nghiêm túc cho diện mạo của xứ sở mình, thì sáng tạo không thể tiếp tục là một thứ huyền thoại mơ hồ được giao phó cho “cái sense”, cho những khoảnh khắc cảm hứng bộc phát, hay trông chờ vào sự xuất hiện đơn độc của một “cá nhân kiệt xuất”. Sáng tạo tử tế trước hết phải là một kỷ luật của tư duy hệ thống, của kiến thức liên ngành và phương pháp tạo tác bài bản.
Logic cũng đơn giản thôi: muốn làm được một sản phẩm tốt, trước tiên người tạo tác phải biết thế nào là “tốt”. Hiểu được cái tốt rồi, ta mới có thể giải mã và lý luận xem bằng cấu trúc nào, bằng sự phối hợp nhịp nhàng nào để tái hiện lại được phẩm tính ấy. Và hành trình “nhận biết cái tốt” đó, không có tên gọi nào chính xác hơn ngoài năng lực cảm thụ.
Thế nhưng, năng lực cảm thụ chưa bao giờ là thứ tự nhiên mà có. Sự khác biệt chỉ nằm ở cách mà ta giành được nó.
Có những người may mắn được nuôi dưỡng trong một môi trường dày dặn về mặt văn hóa, được đắm mình mỗi ngày giữa những tuyệt tác, thì cái hay cái đẹp sẽ tự nhiên thẩm thấu vào tâm thức họ thông qua sự tiếp xúc liên tục. Lớn lên với anime những năm 80s, hẳn nhiên ta sẽ có một cảm thức nhạy bén hơn rất nhiều về những phẩm tính khiến cho chúng hay ho và sâu sắc. Nhưng với phần đông còn lại—những người không khởi đầu từ một điểm tựa phong phú như thế—thì năng lực này bắt buộc phải được học. Chúng ta cần được ai đó chỉ dẫn xem nên bắt đầu nhìn từ đâu, cần được tiếp cận những tác phẩm mang tính bản lề thông qua một quá trình tuyển chọn có chủ đích (hay còn gọi là curating), và thấu hiểu được lý do tại sao những tạo tác đó lại tồn tại và định hình nên thế giới quan của con người.
Quan trọng hơn cả, việc học tập có phương pháp luôn có sức mạnh vượt bậc so với sự thẩm thấu thụ động. Đơn giản vì trong thực tế, không phải cứ nghe nhạc hàng vạn giờ thì đôi tai sẽ tự động hóa thành tai của người soạn nhạc; không phải cứ đọc qua hàng vạn chap truyện tranh là sẽ tường tận kỹ thuật bố cục khung hình hay tiết tấu kể chuyện; và càng không thể có chuyện cứ miệt mài chơi game là một ngày nào đó ta sẽ nghiễm nhiên trở thành game designer.
Nếu phải đặt lên bàn cân giữa việc tự mò mẫm qua hàng ngàn giờ tiếp xúc vô định với hy vọng bản thân tự “ngộ” ra điều gì đó, và việc chọn một lộ trình học tập bài bản, thấu suốt đến tận chân nguyên của ngôn ngữ nghệ thuật—thì sự học vẫn luôn là con đường ngắn nhất, vững chãi nhất. Có được cả hai thì quý giá biết bao, nhưng sự học nghiêm túc luôn là điểm bắt đầu duy nhất để chúng ta thực sự đối diện với cái đẹp mà không bị lạc lối.



